ĐỀ ÁN Sắp xếp, tổ chức lại các thôn trên địa bàn xã Vạn Tường năm 2026
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ VẠN TƯỜNG
Số: /ĐA-UBND | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Vạn Tường, ngày tháng 6 năm 2026 |
DỰ THẢO |
ĐỀ ÁN
Sắp xếp, tổ chức lại các thôn trên địa bàn xã Vạn Tường năm 2026
Căn cứ Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; Công văn số 4695/UBND-NC ngày 22/5/2026 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 205/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Uỷ ban nhân dân xã Vạn Tường xây dựng Đề án sắp xếp, tổ chức lại các thôn trên địa bàn xã Vạn Tường, cụ thể như sau:
Phần I
CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ SỰ CẦN THIẾT
I. CỞ SỞ PHÁP LÝ
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
- Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;
- Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;
Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
- Công văn số 4695/UBND-NC ngày 22/5/2026 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 205/2026 của Thủ tướng Chính phủ;
- Kết luận số 331-KL/ĐU ngày 25/5/2026 của Ban Thường vụ Đảng ủy xã Vạn Tường về phương án bố trí, sắp xếp các thôn trên địa bàn xã.
II. SỰ CẦN THIẾT
Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân xã Vạn Tường đã thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, chỉ đạo và điều hành hoạt động của các thôn trên địa bàn theo đúng quy định của pháp luật. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các chi bộ thôn, sự phối hợp chặt chẽ của Ban Công tác Mặt trận và các chi hội, đoàn thể ở cơ sở, hệ thống thôn đã phát huy tốt vai trò là cầu nối giữa Đảng, Chính quyền với Nhân dân; góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hoạt động của các thôn đã góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phát động, Nhân dân đã tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, phát triển sản xuất, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, các thôn đã thực hiện tốt công tác vận động Nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của quê hương, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh của địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành hoạt động của các thôn vẫn còn bộc lộ một số khó khăn, hạn chế. Quy mô dân số và số hộ dân giữa các thôn phân bố không đồng đều; một số thôn có quy mô dân số nhỏ, số hộ dân ít, trong khi một số thôn có quy mô dân số lớn hơn nhiều. Sự chênh lệch này ảnh hưởng đến tính cân đối trong tổ chức bộ máy, việc phân bổ nguồn lực, triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cũng như tổ chức các hoạt động cộng đồng ở cơ sở.
Đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn thường xuyên biến động, chưa bảo đảm tính ổn định lâu dài. Trình độ, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng của một số người hoạt động ở thôn còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Điều này ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là trong công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, công tác tạo nguồn, lựa chọn, bố trí nhân sự đảm nhiệm các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn và các tổ chức tự quản gặp nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy, phần lớn những người có điều kiện tham gia công tác ở thôn hiện nay đều đã lớn tuổi; trong khi lực lượng lao động trẻ chủ yếu tập trung phát triển kinh tế gia đình, làm việc tại các doanh nghiệp hoặc ngoài địa phương, chưa thực sự quan tâm và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội tại cộng đồng dân cư. Do đó, nguồn nhân lực kế cận phục vụ công tác ở thôn còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Ngoài ra, số lượng thôn trên địa bàn xã hiện nay tương đối nhiều, trong khi nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động cho các thôn còn hạn chế và phải phân bổ cho nhiều nhiệm vụ khác nhau. Việc duy trì bộ máy hoạt động ở tất cả các thôn đòi hỏi nguồn lực tài chính đáng kể để phục vụ công tác hội họp, tuyên truyền, tổ chức phong trào, thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và các nhiệm vụ phát sinh ở cơ sở. Điều này gây áp lực đối với ngân sách địa phương, ảnh hưởng đến việc bảo đảm các điều kiện hoạt động và hiệu quả triển khai nhiệm vụ của các thôn cũng như công tác quản lý, điều hành chung của UBND xã.
Từ những thực tiễn nêu trên, việc rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các thôn trên địa bàn xã theo hướng tinh gọn, hợp lý, phù hợp với quy mô dân số, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước là hết sức cần thiết. Việc sắp xếp các thôn không chỉ nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, mà còn góp phần sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, tiết kiệm ngân sách, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh trong giai đoạn mới.
Phần II
THỰC TRẠNG CỦA CÁC THÔN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
I. THỰC TRẠNG CÁC THÔN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ.
1. Về quy mô số hộ gia đình của thôn
Xã Vạn Tường được thành lập theo Nghị quyết số 1677/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã. Xã được hình thành trên cơ sở nhập nguyên trạng toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của 06 xã gồm: Bình Thuận, Bình Đông, Bình Phước, Bình Trị, Bình Hải và Bình Hòa. Sau khi thành lập, xã Vạn Tường có tổng diện tích tự nhiên 110,72km2. Địa giới hành chính: phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp xã Bình Sơn (mới); phía Nam giáp xã Đông Sơn (mới); phía Bắc giáp Biển Đông.
Hiện nay, toàn xã có 30 thôn, với quy mô dân số khoảng 18.852 hộ và 58.053 nhân khẩu thường trú. Cụ thể:
TT | Tên thôn | Diện tích (km2) | Số hộ | Số khẩu |
01 | Thôn Tuyết Diêm 1 | 1,56 | 644 | 1802 |
02 | Thôn Tuyết Diêm 2 | 2,20 | 1201 | 2982 |
03 | Thôn Tuyết Diêm 3 | 7,59 | 710 | 1852 |
04 | Thôn Thuận Phước | 4,40 | 382 | 1019 |
05 | Thôn Đông Lỗ | 4,60 | 660 | 1729 |
06 | Thôn Tân Hy 1 | 1,82 | 1237 | 3732 |
07 | Thôn Tân Hy 2 | 5,13 | 1072 | 3216 |
08 | Thôn Thượng Hòa | 4,67 | 546 | 1683 |
09 | Thôn Sơn Trà | 2,07 | 1159 | 3419 |
10 | Thôn An Lộc | 1,65 | 431 | 1088 |
11 | Thôn An Lộc Nam | 2,36 | 672 | 1907 |
12 | Thôn An Lộc Bắc | 2,42 | 358 | 1095 |
13 | Thôn Phước Hòa | 6,03 | 671 | 1701 |
14 | Thôn Lệ Thủy | 5,90 | 653 | 2086 |
15 | Thôn Vạn Tường | 5,39 | 707 | 2275 |
16 | Thôn Thanh Thủy | 2,18 | 711 | 2438 |
17 | Thôn An Cường | 3,74 | 740 | 2566 |
18 | Thôn Phước Thiện | 1,30 | 731 | 2628 |
19 | Thôn Phước Thiện 1 | 0,28 | 737 | 2652 |
20 | Thôn Phước Thiện 2 | 0,22 | 536 | 1879 |
21 | Thôn 1 | 5,05 | 302 | 1032 |
22 | Thôn 2 | 5,40 | 507 | 1648 |
23 | Thôn 3 | 3,13 | 375 | 1305 |
24 | Thôn 4 | 6,13 | 584 | 1953 |
25 | Thôn 5 | 1,91 | 319 | 1076 |
26 | Thôn Phước Thọ 1 | 4,41 | 478 | 1546 |
27 | Thôn Phước Thọ 2 | 3,77 | 373 | 1318 |
28 | Thôn Phú Long 1 | 5,01 | 430 | 1344 |
29 | Thôn Phú Long 2 | 4,86 | 539 | 1794 |
30 | Thôn Phú Long 3 | 5,54 | 387 | 1288 |
| Tổng cộng | 110,72 | 18.852 | 58.053 |
Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 10 Nghị định số 185/2025/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; đối với khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thôn phải có quy mô từ 300 hộ gia đình trở lên. Qua rà soát, đánh giá thực trạng các thôn trên địa bàn xã Vạn Tường cho thấy:
+ Số lượng thôn đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình theo quy định: 30/30 thôn, đạt tỷ lệ 100%.
+ Số lượng thôn chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình theo quy định: 0 thôn, chiếm tỷ lệ 0%.
Như vậy, toàn bộ các thôn trên địa bàn xã Vạn Tường đều đáp ứng tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình theo quy định tại Nghị định số 185/2025/NĐ-CP.
2. Về người hoạt động không chuyên trách và người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn:
Hiện nay, xã Vạn Tường có 30 thôn với tổng số 62 người hoạt động không chuyên trách ở thôn. Cụ thể gồm: 30 Bí thư chi bộ (trong đó có 12 Bí thư chi bộ kiêm Trưởng thôn và 16 Bí thư chi bộ kiêm Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn), 18 Trưởng thôn và 14 Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn.
Bên cạnh đó, toàn xã có 120 người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn, bao gồm các Chi hội trưởng và Bí thư Chi đoàn của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể ở thôn.
Trong thời gian qua, đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn và những người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn được bố trí cơ bản phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức triển khai các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động tại địa phương; tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý, điều hành và các hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư. Qua đó góp phần củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã.
Phần III
PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP THÔN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
I. NGUYÊN TẮC SẮP XẾP
- Việc sắp xếp thôn phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch; bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư;
- Thực hiện sắp xếp, sáp nhập các thôn chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định nhằm hình thành các thôn có quy mô phù hợp, bảo đảm đạt các tiêu chí về tổ chức và quy mô dân cư; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở, bảo đảm sự ổn định và thuận lợi trong hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư.
- Việc sắp xếp thôn phải bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, được thực hiện công khai, dân chủ, tạo sự đồng thuận của đa số cử tri đại diện hộ gia đình tại các thôn có liên quan; đồng thời tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện sáp nhập các thôn trong cùng đơn vị hành chính cấp xã; ưu tiên sáp nhập các thôn chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ với các thôn có vị trí địa lý liền kề, có điều kiện giao thông thuận lợi, có sự tương đồng về lịch sử hình thành, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống cộng đồng dân cư.
II. PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP THÔN
Căn cứ tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình theo quy định hiện hành; điều kiện thực tiễn của địa phương và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã Vạn Tường trở thành phường trong giai đoạn 2026 - 2030, UBND xã Vạn Tường dự kiến thực hiện sắp xếp, tổ chức lại các thôn trên địa bàn xã theo hướng tinh gọn, phù hợp với yêu cầu quản lý và phát triển trong giai đoạn mới. Theo đó, tổng số thôn trên địa bàn xã sau sắp xếp giảm từ 30 thôn xuống còn 15 thôn, cụ thể như sau:
1. Số thôn giữ nguyên hiện trạng không thực hiện sắp xếp, sáp nhập: 05 thôn. Cụ thể:
1.Thôn Thượng Hoà: có diện tích tự nhiên 4,67 km2; quy mô dân số 546 hộ, 1683 nhân khẩu.
2. Thôn Sơn Trà: có diện tích tự nhiên 2,07 km2; quy mô dân 1.159 hộ, 3.419 nhân khẩu.
3. Thôn Phước Hoà: có diện tích tự nhiên 6,03 km2; quy mô dân 671 hộ, 1701 nhân khẩu.
4. Thôn Lệ Thủy: có diện tích tự nhiên 5,90 km2; quy mô dân 653 hộ, 2086 nhân khẩu.
5. Thôn An Cường: có diện tích tự nhiên 3,74 km2; quy mô dân 740 hộ, 2566 nhân khẩu.
Các thôn nêu trên tiếp tục được giữ nguyên hiện trạng về tên gọi, địa giới hành chính và tổ chức thôn hiện có nhằm bảo đảm tính ổn định, liên tục trong công tác quản lý nhà nước, duy trì hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn.
2. Số thôn thực hiện sắp xếp, sáp nhập: 25 thôn.
Thực hiện sắp xếp, sáp nhập 25 thôn có quy mô nhỏ, địa bàn liền kề, có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội để thành lập 10 thôn mới, bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư. Cụ thể:
(1). Thành lập thôn Tuyết Diêm trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thôn Tuyết Diêm 1 và thôn Tuyết Diêm 2.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Tuyết Diêm có diện tích tự nhiên 3,76 km2; quy mô dân số 1.845 hộ, 4.784 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp Biển Đông; Phía Tây giáp Biển Đông; Phía Nam giáp Thôn Đông Lỗ; Phía Bắc giáp Biển Đông.
Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn Tuyết Diêm 2.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 02 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Tuyết Diêm bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Tuyết Diêm” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, được sử dụng ổn định trước khi chia tách thành các thôn Tuyết Diêm 1, Tuyết Diêm 2 và Tuyết Diêm 3. Tên gọi “Tuyết Diêm” gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng dân cư địa phương, đồng thời phản ánh nét đặc trưng về lịch sử, văn hóa và nghề làm muối truyền thống được lưu giữ, phát huy qua nhiều thế hệ.
Việc sử dụng tên gọi “Tuyết Diêm” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn Tuyết Diêm 2 hiện nay. Đây là vị trí trung tâm, có điều kiện giao thông thuận lợi, kết nối dễ dàng với các khu dân cư trong thôn và các địa bàn lân cận; Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(2). Thành lập thôn Đông Lỗ trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thôn Tuyết Diêm 3, thôn Thuận Phước và thôn Đông Lỗ.
a) Kết quả sau sắp xếp
-Thôn Đông Lỗ có diện tích tự nhiên 16,59km2; quy mô dân số 1.752 hộ, 4.600 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp Biển Đông; Phía Tây giáp: Thôn Tân Hy và Thôn Thượng Hòa; Phía Nam giáp thôn Phước Hòa, thôn Lệ Thủy và thôn Thượng Hoà; Phía Bắc giáp thôn Tuyết Diêm và Biển Đông.
Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn Thuận Phước.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 03 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Đông Lỗ bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Đông Lỗ” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Đồng thời, việc sử dụng một trong các tên gọi hiện có của các thôn trước khi sắp xếp, góp phần hạn chế tối đa việc thay đổi hồ sơ, giấy tờ và các thông tin có liên quan của tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước và sinh hoạt của Nhân dân.
Việc sử dụng tên gọi “Đông Lỗ” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn Thuận Phước hiện nay. Đây là vị trí có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm ở khu vực dễ tiếp cận đối với người dân trong thôn và kết nối thuận tiện với các địa bàn lân cận. Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(3) Thành lập thôn Tân Hy trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thôn Tân Hy 1 và thôn Tân Hy 2.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Tân Hy có diện tích tự nhiên 6,95 km2; quy mô dân số 2.309 hộ, 6.948 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp thôn Đông Lỗ và thôn Tuyết Diêm; Phía Tây giáp xã Bình Sơn; Phía Nam giá thôn Thượng Hòa; Phía Bắc giáp thôn Sơn Trà.
-Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn Tân Hy 1 hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 02 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Tân Hy bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Tân Hy” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, được sử dụng trước khi chia tách thành thôn Tân Hy 1 và Tân Hy 2, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, Tên gọi “Tân Hy” mang ý nghĩa về sự đổi mới, phát triển và niềm tin vào tương lai tốt đẹp, thể hiện khát vọng xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, ổn định, phát triển bền vững và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Việc sử dụng tên gọi “Tân Hy” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn Tân Hy 1 hiện nay. Đây là vị trí có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm ở khu vực dễ tiếp cận đối với người dân trong thôn và kết nối thuận tiện với các địa bàn lân cận. Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(4). Thành lập thôn An Lộc trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích, quy mô dân số của các thôn An Lộc, An Lộc Bắc và An Lộc Nam.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn An Lộc có diện tích tự nhiên 6,43 km2; quy mô dân số 1.461 hộ, 4.090 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp thôn Lệ Thủy và Thôn Thanh Thủy; Phía Tây giáp Thôn Phú Long và thôn Phước Hoà; Phía Nam giáp thôn Long Bình và thôn Thanh Thuỷ; Phía Bắc giáp: Thôn Phước Hòa và Thôn Lệ Thủy.
-Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn An Lộc Bắc hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 03 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn An Lộc bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “An Lộc” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, được sử dụng trước khi chia tách thành các thôn An Lộc, An Lộc Bắc và An Lộc Nam, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Đồng thời, việc sử dụng một trong các tên gọi hiện có của các thôn trước khi sắp xếp, góp phần hạn chế tối đa việc thay đổi hồ sơ, giấy tờ và các thông tin có liên quan của tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước và sinh hoạt của Nhân dân. Bên cạnh đó, Tên gọi “An Lộc” mang ý nghĩa về sự bình yên, ổn định và phát triển, thể hiện khát vọng của Nhân dân về cuộc sống ấm no, hạnh phúc và phát triển bền vững.
Việc sử dụng tên gọi “An Lộc” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn An Lộc Bắc hiện nay. Đây là vị trí trung tâm, có điều kiện giao thông thuận lợi, kết nối dễ dàng với các khu dân cư trong thôn và các địa bàn lân cận; Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(5). Thành lập thôn Thanh Thủy trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thôn Vạn Tường và thôn Thanh Thủy.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Thanh Thủy có diện tích tự nhiên 7,56 km2; quy mô dân số 1.418 hộ, 4.713 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp Biển Đông và thôn An Cường; Phía Tây giáp: thôn An Lộc, thôn Long Bình; Phía Nam giáp thôn An Cường và thôn Long Bình; Phía Bắc giáp thôn Phước Thiện, Thôn Lệ Thủy và thôn An Lộc.
-Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn Vạn Tường hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 02 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Thanh Thuỷ bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Thanh Thuỷ” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Đồng thời, việc sử dụng một trong các tên gọi hiện có của các thôn trước khi sắp xếp, góp phần hạn chế tối đa việc thay đổi hồ sơ, giấy tờ và các thông tin liên quan của tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước cũng như đời sống, sinh hoạt của Nhân dân. Bên cạnh đó, Tên gọi “Thanh Thuỷ” mang ý nghĩa về sự thanh bình, trong lành, thể hiện khát vọng xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, ổn định, phát triển bền vững, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Việc sử dụng tên gọi “Thanh Thủy” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn Vạn Tường hiện nay. Đây là vị trí có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm ở khu vực dễ tiếp cận đối với người dân trong thôn và kết nối thuận tiện với các địa bàn lân cận. Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(6). Thành lập thôn Phước Thiện trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích, quy mô dân số thôn Phước Thiện, thôn Phước Thiện 1 và thôn Phước Thiện 2.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Phước Thiện có tổng diện tích tự nhiên 1,8 km2; quy mô dân số 2.004 hộ, 7.159 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp Biển Đông; Phía Tây giáp thôn Lệ Thủy; Phía Nam giáp thôn Thanh Thủy; Phía Bắc giáp Biển Đông.
- Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn Phước Thiện hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 03 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Phước Thiện bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Phước Thiện” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, được sử dụng trước khi chia tách thành các thôn Phước Thiện, Phước Thiện 1 và Phước Thiện 2, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Đồng thời, việc sử dụng một trong các tên gọi hiện có của các thôn trước khi sắp xếp, góp phần hạn chế tối đa việc thay đổi hồ sơ, giấy tờ và các thông tin có liên quan của tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước và sinh hoạt của Nhân dân. Bên cạnh đó, Tên gọi “Phước Thiện” mang ý nghĩa tốt đẹp, thể hiện những giá trị truyền thống về đạo đức, nhân văn, tinh thần hướng thiện và khát vọng xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, ổn định, phát triển.
Việc sử dụng tên gọi “Phước Thiện” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn Phước Thiện hiện nay. Đây là vị trí trung tâm, có điều kiện giao thông thuận lợi, kết nối dễ dàng với các khu dân cư trong thôn và các địa bàn lân cận; Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(7). Thành lập thôn Nam Yên trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích, quy mô dân số của thôn 1 và thôn 2.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Nam Yên có diện tích tự nhiên 10,45 km2; quy mô dân số 809 hộ, 2680 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp thôn An Cường và xã Đông Sơn; Phía Tây xã Đông Sơn và thôn Long Bình; Phía Nam giáp xã Đông Sơn; Phía Bắc giáp thôn An Cường và thôn Long Bình.
- Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn 1 hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 02 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Nam Yên bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Nam Yên” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, Tên gọi “Nam Yên” mang ý nghĩa về một vùng đất thanh bình, ổn định và phát triển; thể hiện khát vọng xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, gắn bó, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và phát triển bền vững.
Việc sử dụng tên gọi “Nam Yên” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn 1 hiện nay. Đây là vị trí có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm ở khu vực dễ tiếp cận đối với người dân trong thôn và kết nối thuận tiện với các địa bàn lân cận. Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(8). Thành lập thôn Long Bình trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích, quy mô dân số của thôn 3, thôn 4 và thôn 5.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Long Bình có diện tích tự nhiên 11,17 km2; quy mô dân số 1278 hộ, 4.334 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp thôn Nam Yên, thôn An Cường và thôn Thanh Thuỷ; Phía Tây giáp thôn Phước Thọ, Thôn Phú Long và xã Đông Sơn; Phía Nam giáp thôn Nam Yên và xã Đông Sơn; Phía Bắc giáp: thôn Phú Long, thôn An Lộc và thôn Thanh Thuỷ.
- Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn 5 hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 02 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Long Bình bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Long Bình” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là địa danh truyền thống của khu vực, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, Tên gọi “Long Bình” mang ý nghĩa về sự trường tồn, thịnh vượng và bình yên, thể hiện khát vọng của Nhân dân về cuộc sống ổn định, đoàn kết, ấm no và phát triển bền vững.
Việc sử dụng tên gọi “Long Bình” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn 5 hiện nay. Đây là vị trí có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm ở khu vực dễ tiếp cận đối với người dân trong thôn và kết nối thuận tiện với các địa bàn lân cận. Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(9). Thành lập thôn Phước Thọ trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thôn Phước Thọ 1 và Phước Thọ 2.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Phước Thọ có tổng diện tích tự nhiên 8,18 km2; quy mô dân số 851 hộ, 2.864 khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp thôn Long Bình và xã Đông Sơn; Phía Tây giáp xã Đông Sơn; Phía Nam giáp xã Đông Sơn; Phía Bắc giáp thôn Phú Long.
- Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn Phước Thọ 1 hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 02 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Hai thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Phước Thọ bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Phước Thọ” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là tên gọi truyền thống của khu vực, được sử dụng trước khi chia tách thành các thôn Phước Thọ 1 và Phước Thọ 2, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, Tên gọi “Phước Thọ” mang ý nghĩa tốt đẹp, thể hiện khát vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trường tồn và phát triển bền vững của cộng đồng dân cư.
Việc sử dụng tên gọi “Phước Thọ” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn Phước Thọ 1 hiện nay. Đây là vị trí có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm ở khu vực dễ tiếp cận đối với người dân trong thôn và kết nối thuận tiện với các địa bàn lân cận. Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(10). Thành lập thôn Phú Long trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thôn Phú Long 1, thôn Phú Long 2 và thôn Phú Long 3.
a) Kết quả sau sắp xếp
- Thôn Phú Long có diện tích tự nhiên 15,41 km2; quy mô dân số 1.356 hộ/4.426 nhân khẩu.
- Đơn vị thôn liền kề: Phía Đông giáp thôn Phước Hòa, thôn An Lộc và thôn Long Bình; Phía Tây giáp xã Đông Sơn, thôn Thượng Hoà và thôn Phước Thọ; Phía Nam giáp thôn Phước Thọ và thôn Long Bình; Phía Bắc giáp Thôn Thượng Hòa và Thôn Phước Hòa.
- Nơi đặt trụ sở làm việc của thôn: Nhà Văn hóa thôn Phú Long 2 hiện nay.
b) Cơ sở và lý do của việc sắp xếp thôn, đặt tên, trụ sở của thôn sau sắp xếp
Việc sắp xếp 03 thôn nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tổ chức lại thôn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Các thôn có địa giới hành chính liền kề, điều kiện giao thông thuận lợi, có nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống sinh hoạt của Nhân dân, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sau sắp xếp, thôn Phú Long bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
Việc lựa chọn tên gọi “Phú Long” cho thôn mới bảo đảm phù hợp với nguyên tắc và quy định về đặt tên thôn hình thành sau sắp xếp. Đây là tên gọi truyền thống của khu vực, được sử dụng trước khi chia tách thành các thôn Phú Long 1, Phú Long 2 và Phú Long 3, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa, lịch sử của Nhân dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, Tên gọi “Phú Long” mang ý nghĩa về sự phồn vinh, thịnh vượng và phát triển bền vững, thể hiện khát vọng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Việc sử dụng tên gọi “Phú Long” góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương; giữ gìn bản sắc cộng đồng dân cư; tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng sau khi thực hiện sắp xếp thôn.
Trụ sở làm việc đặt tại thôn Phú Long 2 hiện nay. Đây là vị trí có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm ở khu vực dễ tiếp cận đối với người dân trong thôn và kết nối thuận tiện với các địa bàn lân cận. Đồng thời, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của thôn sau sắp xếp, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhu cầu giao dịch, hội họp và các hoạt động cộng đồng của Nhân dân.
(Có phụ lục chi tiết kèm theo)
III. PHƯƠNG ÁN BỐ TRÍ SẮP XẾP NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH THÔN SAU SẮP XẾP THÔN
1.Thực trạng
Hiện nay, xã Vạn Tường có 30 thôn với tổng số 62 người hoạt động không chuyên trách ở thôn. Cụ thể gồm: 30 Bí thư chi bộ (trong đó có 12 Bí thư chi bộ kiêm Trưởng thôn và 16 Bí thư chi bộ kiêm Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn), 18 Trưởng thôn và 14 Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn.
Bên cạnh đó, toàn xã có 120 người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn, bao gồm các Chi hội trưởng và Bí thư Chi đoàn của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể ở thôn.
2. Phương án bố trí sắp xếp:
Việc bố trí, sắp xếp người hoạt động không chuyên trách ở thôn sau khi thực hiện sắp xếp thôn được thực hiện trên cơ sở bảo đảm phù hợp với chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; đồng thời, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của những người hoạt động không chuyên trách theo quy định của pháp luật.
Đối với đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn hiện nay, căn cứ yêu cầu nhiệm vụ của thôn mới, tiêu chuẩn, điều kiện của từng chức danh, năng lực, trình độ, kinh nghiệm công tác, uy tín trong cộng đồng dân cư và nhu cầu thực tế của địa phương để xem xét, lựa chọn, bố trí đảm nhiệm các chức danh ở thôn sau sắp xếp theo quy định hiện hành. Việc bố trí nhân sự phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, dân chủ, đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật. Đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn không tiếp tục được bố trí sau sắp xếp, thực hiện chấm dứt nhiệm vụ và giải quyết chế độ, chính sách theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước. Phương án bố trí, sắp xếp nhân sự cụ thể đối với từng chức danh sau sắp xếp (Cụ thể có phương án riêng).
IV. PHƯƠNG ÁN SẮP XÊP, XỬ LÝ TRỤ SỞ, TÀI SẢN CÔNG SAU SẮP XẾP THÔN
Sau khi thực hiện sắp xếp thôn, toàn bộ trụ sở làm việc, nhà văn hóa thôn, các công trình hạ tầng, trang thiết bị, tài sản công và các tài sản hợp pháp khác của các thôn thuộc diện sắp xếp được bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng cho thôn mới quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định pháp luật có liên quan.
UBND xã tổ chức rà soát, thống kê, lập phương án quản lý, bố trí và sử dụng các trụ sở, nhà văn hóa và tài sản công hiện có theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí, bảo đảm đáp ứng yêu cầu hoạt động của thôn mới sau sắp xếp. Đối với các công trình, tài sản còn nhu cầu sử dụng sẽ tiếp tục được khai thác phục vụ các hoạt động hội họp, sinh hoạt cộng đồng, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và các nhiệm vụ khác của địa phương.
Trường hợp có trụ sở, nhà văn hóa hoặc tài sản công dôi dư sau sắp xếp, UBND xã thực hiện việc quản lý, xử lý, bố trí sử dụng hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, bảo đảm phát huy hiệu quả sử dụng tài sản công, tránh thất thoát, lãng phí.
Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng trụ sở, tài sản công sau sắp xếp phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phục vụ tốt các hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở và nhu cầu sinh hoạt của Nhân dân trên địa bàn.
Phần III
PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THÔN MỚI
1. Về số lượng thôn
Sau khi thực hiện sắp xếp, toàn xã Vạn Tường có 15 thôn, gồm: Tuyết Diêm, Đông Lỗ, Tân Hy, Thượng Hoà, Sơn Trà, An Lộc, Phước Hoà, Lệ Thuỷ, Thanh Thuỷ, An Cường, Phước Thiện, Nam Yên, Long Bình, Phước Thọ và Phú Long.
Việc sắp xếp các thôn được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở. Đồng thời, việc sắp xếp góp phần khắc phục tình trạng quy mô thôn không đồng đều, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền địa phương, phát huy hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Sau khi sắp xếp, các thôn mới bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, tổ chức các hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
2. Về tổ chức và nhân sự
Căn cứ Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Sau khi thực hiện sắp xếp, mỗi thôn được bố trí 03 người hoạt động không chuyên trách, gồm các chức danh: Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn và Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn.
Với 15 thôn sau sắp xếp, tổng số người hoạt động không chuyên trách ở thôn trên địa bàn xã là 45 người. Việc bố trí, sắp xếp và kiện toàn đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn được thực hiện theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các văn bản hướng dẫn có liên quan; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, ổn định tổ chức bộ máy ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa bàn dân cư.
Công tác kiện toàn nhân sự được thực hiện công khai, dân chủ, khách quan, bảo đảm lựa chọn những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực, trách nhiệm, uy tín trong cộng đồng dân cư và có khả năng vận động, tập hợp Nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, phát triển.
Sau khi hoàn thành việc sắp xếp thôn, UBND xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện các thủ tục kiện toàn tổ chức và nhân sự theo quy định; bảo đảm hoạt động của các thôn mới được duy trì liên tục, thông suốt, ổn định và hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và phục vụ Nhân dân trên địa bàn.
3. Về tổ chức thực hiện:
Sau khi Đề án sắp xếp thôn được cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt theo quy định, UBND xã có trách nhiệm xây dựng và ban hành kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện trên địa bàn; đồng thời chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, các thôn và các tổ chức có liên quan phối hợp thực hiện bảo đảm đúng trình tự, thủ tục và tiến độ theo quy định của pháp luật.
Tổ chức công bố các quyết định thành lập thôn mới; hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện việc bàn giao, tiếp nhận hồ sơ, tài liệu, sổ sách, tài sản, cơ sở vật chất, các nguồn quỹ và các nội dung có liên quan giữa các thôn trước và sau khi sắp xếp. Đồng thời thực hiện rà soát, cập nhật, điều chỉnh các thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước theo quy định, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ và liên tục trong hoạt động của các thôn mới sau khi được thành lập.
Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện việc kiện toàn tổ chức ở thôn theo quy định; tổ chức bầu Trưởng thôn, kiện toàn Ban Công tác Mặt trận thôn và các chức danh khác ở thôn theo quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn hiện hành, bảo đảm bộ máy tổ chức hoạt động ổn định, hiệu lực, hiệu quả ngay sau khi hoàn thành việc sắp xếp.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sắp xếp thôn; đẩy mạnh công tác vận động, tạo sự thống nhất về nhận thức và sự đồng thuận trong Nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu của Đề án. Kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân để giải quyết hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện Đề án; kịp thời phát hiện, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh; bảo đảm việc sắp xếp thôn được thực hiện đúng quy định của pháp luật, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, không làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của Nhân dân và việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.
Trên đây là Đề án sắp xếp các thôn thuộc xã Vạn Tường. Uỷ ban nhân dân xã kính trình Hội đồng nhân dân xã xem xét, quyết định./.
Nơi nhận: - UBND tỉnh (b/c); - Sở Nội vụ (b/c); - Thường trực Đảng ủy (b/c); - Thường trực HĐND xã (b/c); - CT, các PCT UBND xã; - Các cơ quan, đơn vị thuộc xã; - Các thôn trên địa bàn xã; - Lưu: VT. | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN CHỦ TỊCH
Ung Đình Hiền |

